Những công dụng của sả chanh

1.133.065 views

Sả chanh có rất nhiều công dụng tốt như: kháng khuẩn, kháng ký sinh trùng, kháng nấm, chống viêm, chống oxy hóa, chống đột biến, chống sốt rét, hạ đường huyết và mỡ máu…

Tác dụng kháng khuẩn.

Ibrahim Darah đã chứng minh tinh dầu sả chanh ức chế sự phát triển của 42 loại vi khuẩn (CA.120,1994,212396 e). Tinh dầu sả chanh có tác dụng kháng khuẩn in vitro trên các chủng vi khuẩn theo thứ tự hoạt tính giảm dần: Bacillus subtilis, Bacillus mycoides, Shigella dysenteriae, Proteus vulgaris, phế cầu khuẩn, trực khuẩn lao (giảm độc), Shigella flexneri, liên cầu khuẩn tan máu, tụ cầu vàng, Salmonella typhi, E.coli[1].

Trong nghiên cứu của Mohd Irfan Naik và cộng sự, tinh dầu sả chanh đã được nghiên cứu tác dụng chống Staphylococcus aureus (S. aureus), Bacillus cereus (B. cereus), Bacillus subtilis (B. subtilis), Escherichia coli (E. coli), Klebsiella pneumoniae (K. pneumoniae) sử dụng phương pháp khuếch tán Agar và phương pháp pha loãng. Nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) và nồng độ diệt khuẩn tối thiểu (MBC) được xác định bằng Phương pháp pha loãng.

Kết quả tinh dầu sả chanh được tìm thấy có hiệu quả đối với tất cả các vi sinh vật thử nghiệm. Người ta đã thấy rằng các vi khuẩn gram dương nhạy cảm hơn với tinh dầu sả chanh so với các vi khuẩn gram âm. Các vi khuẩn được thử nghiệm, đặc biệt là các vi khuẩn gram âm đã cho thấy tỷ lệ kháng kháng sinh cao nhưng chúng lại bị ức chế bởi tinh dầu sả chanh. Do đó tinh dầu sả chanh có hiệu quả chống lại các vi sinh vật kháng thuốc. Vì vậy sử dụng tinh dầu sả chanh rất hữu ích trong điều trị các nhiễm trùng do sinh vật đa kháng thuốc gây ra[5,7].

aureus và B. cereus nhạy cảm hơn với tinh dầu sả chanh và B. subtilis bị ức chế ở nồng độ 0,03%, E. coli bị ức chế ở nồng độ 0,06%, trong khi đó K. pneumoniae ở mức 0,25%. Hơn nữa, trong các vi sinh vật được thử nghiệm, đặc biệt là các vi khuẩn gram âm dễ bị tinh dầu sả chanh ức chế hơn so với kháng sinh tiêu chuẩn. Kết quả tương tự đã được báo cáo bởi Premathilake et al.[2018] người điều tra các chủng vi khuẩn gây bệnh như E. coli, B. cereus và S. aureus. Các chủng vi khuẩn gram dương nhạy cảm hơn với tinh dầu C citratus ở tất cả các nồng độ của nó so với chủng Gram âm E coli. Tinh dầu sả chanh được tìm thấy có thể xâm nhập và ức chế sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh trên thực phẩm như Listeria monocytogenes và Salmonella Typhimurium [Rei-Teixeira và cộng sự, 2019; Mith và cộng sự, 2014]. Vi khuẩn làm hỏng thực phẩm (Brochothrix thermosphacta và Pseudomonas uorescens) cũng nhạy cảm với tinh dầu sả chanh [Mith et al.,2014]. Hoạt tính kháng khuẩn của tinh dầu sả chanh là do sự tương tác giữa các thành phần chính của tinh dầu và màng tế bào vi khuẩn. Các terpen lipophilic có thể thay đổi độ ẩm và tính thấm của màng tế bào hoặc thay đổi nồng độ pH và ATP nội bào, từ đó dẫn đến vỡ tế bào [Shi et al., 2016]. Nikaido [2003] cho rằng tính kháng các tinh dầu của vi khuẩn gram âm là do cấu trúc của màng ngoài bảo vệ tế bào vi khuẩn chống lại sự xâm nhập của các tác nhân bên ngoài. Màng ngoài là một trong những yếu tố chính góp phần vào sự kháng thuốc của vi khuẩn gram âm đối với các thuốc kháng sinh. Tuy nhiên, một số nghiên cứu ngày nay đã chỉ ra rằng tinh dầu sả chanh có thể ức chế thành công sự tăng trưởng của nhiều vi khuẩn gram âm kháng đa thuốc như P. aeruginosa, E. coli, Enterobacter cloaceae, Morganella morganii, Proteus mirabilis hoặc Burkholderia cepacia [Bu ková et al., 2018; Vasireddy và cộng sự, 2018][7].

Thành phần kháng khuẩn chính (~75%) của tinh dầu sả chanh đã được phân lập và xác định là α- và β-Citral (Onawunmi et al. 1984). Nghiên cứu của Onawunmi và cộng sự năm 1989 đã đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của citral. Kết quả thu được citral cho thấy hoạt tính kháng khuẩn đáng kể chống lại các vi khuẩn gram dương và gram âm cũng như nấm. pH kiềm làm tăng hoạt tính kháng khuẩn của citral. Tốc độ nuôi cấy của E.coli giảm tại nồng độ citral ≥ 0,01% v/v trong khi ở nồng độ ≥ 0,03% v/v tạo ra sự giảm nhanh chóng các tế bào kéo theo là hạn chế sự tăng trưởng. Trong môi trường không tăng trưởng, 0,08% và 0,1% v / v cho thấy tác dụng diệt khuẩn nhanh[8].

Tác dụng kháng virus

Một nghiên cứu của Damian H. Gilling cùng cộng sự tại Đại học Arizona, Mỹ cho thấy tác dụng chống virus Norovirus của tinh dầu sả và citral. Các norovirus ở người (NoV) gây bệnh trong khoảng 19 – 21 triệu người ở Hoa Kỳ mỗi năm, dẫn đến 56.000 – 71.000 ca nhập viện và 570 – 800 người chết. Ngoài ra, NoV gây ra từ 73% – 95% các trường hợp viêm dạ dày ruột không do vi khuẩn trên toàn thế giới. NoV là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh do thực phẩm ở Hoa Kỳ. Nghiên cứu đã chỉ ra cơ chế chống virus của tinh dầu sả và citral là bao phủ lên vỏ capsid của virus, tạo thành các liên kết không đặc hiệu và không sinh sản với các tế bào chủ, từ đó không cho nhiễm trùng lây lan, giảm sự lây nhiễm virus. Nghiên cứu này cho thấy tính chất chống virus của tinh dầu sả và citral chống lại Novovirus và do đó chỉ ra tiềm năng của chúng là các thực phẩm tự nhiên và chất khử trùng bề mặt giúp kiểm soát norovirus[9].

Nghiên cứu của Selvarani Vimalanathan và cộng sự đăng tải trên tạp chí American Journal of Essential Oils and Natural Products năm 2014, cho thấy một số tinh dầu và thành phần chính của chúng có đặc tính chống virus cúm trong cả hai pha lỏng và pha hơi. Hợp chất phân lập citronellol (thành phần có trong tinh dầu sả chanh) có tác dụng rất tích cực chống lại virus cúm sau khi tiếp xúc chỉ 10 phút[10].

Luz Angela Gómez và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu với mục đích tìm hiểu hoạt động chống virus trong ống nghiệm của citral trên sự nhân lên của virus sốt vàng (yellow fever virus – YFV). Kết quả chỉ ra rằng citral có thể đóng góp vào hoạt động chống YFV. Virus sốt vàng (YFV) gây ra dịch bệnh sốt vàng (YF), gây các biến chứng bệnh gan, xuất huyết và tử vong với tỷ lệ mắc bệnh là 77,3% trong năm 2010[11].

Một nghiên cứu của Gholamhosein Pourghanbari cùng các cộng sự về citral cho thấy tác dụng chống lại phân nhóm virus cúm gia cầm (AIV) H9N2 được đánh giá in vitro. Kết quả cho thấy citral có thể ức chế sao chép AVI thông qua sự khác biệt pha nhân lên của virus (P ≤ 0.05). Citral có thể ức chế sự nhân lên của virus cúm thông qua các bước chu trình nhân lên khác nhau đặc biệt là trong suốt quá trình trực tiếp tương tác với các hạt virus[12].

Tác dụng kháng ký sinh trùng

Tinh dầu sả diệt Entamoeba moshkowskii với nồng độ ức chế tối thiểu 1:1,280. Geraniol có cùng nồng độ ức chế thấp nhất trên amip như tinh dầu sả[1].

Tinh dầu sả chanh cũng có tác dụng trên amip Entamoeba histolytica[6].

Tinh dầu sả ở nồng độ thấp nhất 2% có tác dụng làm chết giun lợn sau 130 phút trong thử nghiệm invitro[1].

Tác dụng kháng nấm

Toàn bộ dầu có đặc tính diệt nấm đối với nấm bệnh trên thực vật và con người (Yadav và Dubey, 1994; Mehmood et al., 1997; Handique và Singh, 1990; Dubey et al., 2000; Cimanga và cộng sự, 2002).

Ở nồng độ 0,10 – 0,25%, sả có tác dụng rõ rệt kháng các nấm Aspergillus niger, A.flavus, A. oryzae, A.sp, Penicillium citriorum, P. coryliphilum, P. janthannellium, P.sp, Rhizopus sp, Mucor sp, Botrytis sp, Circinella sp. và Mycelia sterillia.

Trong thử nghiệm in vitro đánh giá về hoạt tính kìm hãm nấm và diệt nấm, sả có tác dụng đáng kể đối với các chủng nấm Candida spp., Aspergillus fumigatus, Microsporum canis, M. gypseum, Trichophyton mentagrophytes, T.interdigitale, và T. rubrum. Tác dụng mạnh nhất trên Candida albicans và M. gypseum. Citral và citronellal có hoạt tính kháng nấm tốt[1].

Trong nghiên cứu của Mohamed Nadjib Boukhatem và cộng sự, hoạt tính kháng nấm của tinh dầu sả chanh in vitro được đánh giá khi sử dụng cả pha lỏng và pha hơi. Hoạt tính kháng nấm của tinh dầu sả chanh được đánh giá chống lại một số nấm men gây bệnh và nấm sợi sử dụng phương pháp khuếch tán đĩa và khuếch tán hơi. Kết quả là tinh dầu sả chanh thể hiện tác dụng kháng nấm đầy hứa hẹn chống lại Candida albicans, C. tropicalis và Aspergillus niger, với đường kính vùng ức chế khác nhau (IZDs) (35-90 mm). IZD tăng khi tăng lượng tinh dầu sử dụng. Đáng chú ý là hoạt động chống Candida cao hơn đã được quan sát thấy trong pha hơi[4].

Premathilake et al. [2018] thấy rằng tinh dầu sả chanh có hoạt tính chống nấm Colletotricum truncatum, Fusarium spp., Penicillium spp., và Crysosporium spp. Tất cả bốn nồng độ khác nhau của tinh dầu được sử dụng trong thí nghiệm này đều cho thấy tác dụng ức chế 100% Fusarium spp., Penicillium spp., và Crysosporium spp. C. truncatum cũng bị ức chế bởi tinh dầu sả nhưng cần nồng độ cao hơn. Tinh dầu của C. citratus cũng được nghiên cứu trên Candida albicans, Candida parapsilosis, Candida Tropicalis, Candida glabrata và Candida krusei [da Silva và cộng sự, 2008]. Tất cả các chủng đã được chứng minh là nhạy cảm với tinh dầu C. citratus, cho thấy những quan điểm mới trong ứng dụng tiềm năng của tinh dầu sả chanh trong nhiễm Candida điển hình. Tzortzakis & Economakis [2007] đã báo cáo tác dụng kháng nấm rộng rãi của tinh dầu C. citratus chống lại các mầm bệnh thực phẩm như Aspergillus niger, Colletotrichum coccodes, Botrytis cinerea, Cladosporium herbarum, và Rhizopus stolonifer. Amini và cộng sự. [2016] đã chứng minh

tinh dầu sả chanh kiểm soát hiệu quả sự tăng trưởng sợi nấm của ba loài Phytophthora: P. capsici, P. drechsleri và P. melonis. Chi Phytophora là một loại nấm mốc gây hại thực vật

gây thiệt hại kinh tế lớn cho cây trồng cũng như hủy hoại môi trường trong hệ sinh thái tự nhiên. Helal et al. [2006] đã điều tra hoạt động chống nấm của tinh dầu C. citratus chống lại chủng Aspergillus niger ML2. Tinh dầu sả chanh có tác dụng độc với nấm gây mầm bệnh sau thu hoạch của chi Aspergillus: A. avus, A. parasiticus và A. clavatus [Matasyoh và cộng sự, 2011; Bozik và cộng sự, 2017]. Năm loài độc tố phân lập từ các mẫu ngô, bao gồm A. avus, A. parasiticus, A. ochraceus, A. niger và A. fumigatus, cũng được phát hiện là nhạy cảm với tinh dầu sả chanh [Matasyoh et al., 2011]. Hoạt tính cao nhất của tinh dầu sả chanh đã được quan sát chống lại A. niger với nồng độ ức chế tối thiểu là 15 mg/mL và khả năng kháng cao nhất quan sát từ A. avus với MIC là 118 mg mL. Sharma et al., [2017] đã ghi nhận tác dụng ức chế của tinh dầu sả đối với một chủng Fusarium oxysporum gây bệnh.

Hoạt tính kháng nấm cao của tinh dầu sả được quy cho sự hiện diện của hai đồng phân citral [Leite et al., 2014]. Theo Harris [2002], citral dường như tương tác chủ yếu với thành tế bào của nấm. Tương tác như vậy ảnh hưởng đến cấu trúc của tế bào nấm, ức chế sự tổng hợp của nó, dẫn đến tế bào tử vong. Các tài liệu trước đây cho rằng tác dụng gây độc với nấm của citral bắt nguồn từ khả năng hình thành phức hợp chuyển giao với tryptophan tế bào nấm, dẫn đến tiêu diệt nấm [Kurita và cộng sự, 1981]. Trong các nghiên cứu gần đây, hoạt tính kháng nấm của citral được đánh giá chống lại Geotrichum citri-aurantii [Zhou và cộng sự, 2014]. Thí nghiệm cho thấy rằng citral ức chế đáng kể sự phát triển của sợi nấm. Đặc tính kháng nấm của citral được quy cho sự phá hủy màng tế bào dẫn đến rò rỉ các thành phần tế bào nấm. Hoạt tính ức chế của tinh dầu sả chanh cũng có thể xuất phát từ tác dụng hiệp đồng của các hoạt chất phụ hoặc chính [Nguefack và cộng sự, 2012]. Các nghiên cứu sâu hơn là cần thiết để nghiên cứu tác dụng của tinh dầu sả chanh, đặc biệt là nếu nó được sử dụng trong tương lai như là một thành phần của thuốc chống nấm mới.

Pereira và cộng sự. [2015] đề xuất rằng hoạt động chống nấm của geraniol và citronellol, tức là hai alcol monoterpene, chống lại Trichophyton rubrum liên quan đến ức chế sinh tổng hợp ergosterol. Nói chung, các hợp chất terpen/terpenoid lipophilic (ưa lipid) có trọng lượng phân tử thấp – những thành phần có trong tinh dầu sả chanh, có hoạt tính kháng nấm cao có thể liên quan đến khả năng phá vỡ màng tế bào, gây chết tế bào hoặc ức chế sự hình thành và nảy mầm của nấm[7].

Tác dụng chống viêm

Trong một nghiên cứu của Mohamed Nadjib Boukhatem và cộng sự,  tinh dầu sả chanh đã được đánh giá về tác dụng chống viêm khi sử dụng tại chỗ và đường uống đối với cơ thể. Tinh dầu sả chanh (10 mg/kg, dùng đường uống) làm giảm đáng kể phù chân do carrageenan gây ra, tác dụng tương tự như quan sát thấy khi sử dụng diclofenac đường uống (50 mg/kg) được dùng làm nhóm chứng dương. Sử dụng đường uống tinh dầu sả chanh cho thấy tác dụng chống viêm phụ thuộc vào liều. Ngoài ra, sử dụng tại chỗ tinh dầu sả chanh mang lại hiệu quả chống viêm in vivo mạnh mẽ, như đã được chứng minh bằng cách sử dụng mô hình chuột bị phù tai do dầu croton. Sử dụng tại chỗ tinh dầu sả chanh với liều 5 và 10 ml/tai làm giảm đáng kể phù nề tai cấp tính gây ra bởi dầu croton ở 62,5 và 75% số chuột tương ứng. Ngoài ra, phân tích mô học xác nhận rõ ràng rằng tinh dầu sả chanh ức chế phản ứng viêm da trên mô hình động vật[4,7].

Tác dụng chống sốt rét

Các loại tinh dầu của Cymbopogon citratus đã cho thấy ức chế 86,6% sự tăng trưởng của Plsmodium berghei khi so sánh với chloroquine (dùng thuốc ức chế bởi chloroquine là 100%). Trong nghiên cứu của Tchoumbougnang F và cộng sự, tinh dầu thu được từ quá trình chiết xuất lá tươi của Cymbopogon citratus đã được phân tích GC và GC / MS. Thành phần chính của tinh dầu Cymbopogon citratus chứa geranial (32,8%), neral (29,0%), myrcene (16,2%) và beta-pinene (10,5%). Tác dụng của tinh dầu này đối với sự phát triển của Plasmodium berghei đã được nghiên cứu. Kết quả cho thấy tác dụng chống sốt rét đáng kể trong thử nghiệm in vivo ức chế bốn ngày ở chuột. Ở nồng độ 200, 300 và 500 mg/kg chuột mỗi ngày, tinh dầu C. citratus tạo ra tác dụng cao nhất với tỷ lệ ức chế ký sinh trùng tương ứng là: 62,1%, 81,7% và 86,6%. Cloroquine (10 mg/kg chuột, nhóm chứng dương) có hoạt tính ức chế 100%[6].

Tác dụng chống đột biến

Các chiết xuất ethanol của sả chanh thể hiện tác dụng chống đột biến trong các mô hình khác nhau và liên quan đến sự tăng trưởng của các tế bào sợi được cấy ghép ở chuột ngăn ngừa di căn phổi. Tác dụng ức chế của chiết xuất ở giai đoạn đầu ung thư tế bào gan do diethylnitrosamine đã được nhìn thấy ở 334 Chuột Fischer đực[6].

Chất d.limonen có tác dụng phòng chống ung thư (CA.118,1993,73224 r)[1]. Các loại tinh dầu từ C. citratus đã được thử nghiệm cho tác dụng gây độc tế bào của chúng chống lại các tế bào ung thư bạch cầu P388 (Dubey và cộng sự, 1997)[3].

Tác dụng chống oxy hóa

Chiết xuất Methanol, Methanol/nước, thuốc sắc Cymbopogon citratus đã được chứng minh là có tác dụng thu dọn gốc tự do[6].

Chúng cũng thể hiện các hoạt tính chống oxy hóa có thể so sánh với α-tocopherol và butylated hydroxyl toluene (Baratta et al., 1998; Lean và Mohammad, 1999)[3].

Tác dụng chống oxy hóa của tinh dầu C. citratus là do tác dụng hiệp đồng của tất cả các thành phần của nó [Guimarães et al., 2011]. Tuy nhiên, các báo cáo gần đây chỉ ra rằng chính thành phần terpenoid của tinh dầu – citral, cho thấy tác dụng chống oxy hóa là kết quả của quá trình hiệp đồng oxy hóa với chất nền đích và sự kết thúc chéo của chuỗi oxy hóa [Baschieri et al., 2017].

Lawrence và cộng sự. [2015] kiểm tra kỹ hoạt tính chống oxy hóa tinh dầu lá sả chanh có nguồn gốc từ Ấn Độ sử dụng bốn phương pháp khác nhau: hoạt động thu dọn gốc tự do (phương pháp DPPH), giảm năng lượng, phương pháp thu dọn oxit nitric,

và xét nghiệm tẩy trắng β-carotene. Các giá trị IC50 được ghi lại cho phương pháp DPPH và NO tương ứng là 0,5 mg / mL và 2,0 mg / mL. Các tác dụng khử cũng có ý nghĩa đáng kể. Kết quả đã chứng minh rằng tinh dầu sả chanh có hiệu quả trong việc làm sạch gốc tự do và có tiềm năng trở thành một chất chống oxy hóa mạnh mẽ. Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Mansour et al. [2015] trong đó hoạt tính chống oxy hóa cao hơn đã được chứng minh cho tinh dầu sả chanh Ai Cập với IC50 1,0 mg / mL so với dầu sả chanh dễ bay hơi Ả Rập Saudi với IC50 6,9 mg / mL. Khả năng thu dọn gốc tự do được quy cho các các hợp chất alcol và phenolic chưa bão hòa như linalool (5,6%), geraniol (8,3%), terpin-4-ol (2,1%) và eugenol (0,4%). Mặt khác, Anggraeni et al. [2018] báo cáo một tác dụng chống oxy hóa thấp của tinh dầu sả chanh Indonesia khi so sánh với axit ascobic và tinh dầu sả chanh thương mại được sử dụng làm nguyên liệu tham khảo. Tương tự Viuda-Martos và cộng sự. [2010] đã báo cáo hoạt động dọn gốc tự do của tinh dầu sả chanh sử dụng gốc DPPH ổn định với IC50 199,63 mg/mL, trong khi đó khản năng chống oxy hóa khử sắt (FRAC) của tinh dầu cao. Nhóm nghiên cứu tương tự đã tìm thấy tinh dầu sả chanh có hiệu quả cao trong việc khử ion sắt (II), tốt hơn axit ascobic và BHT. Viuda-Martos và cộng sự. [2010] cũng đã chứng minh rằng tinh dầu sả chanh có thể cho thấy một hoạt động chống oxy hóa, được xác định bằng phương pháp Rancimat.

Nhiều nhà khoa học khác cũng đã nghiên cứu về hoạt động chống oxy hóa của tinh dầu C. citratus. Guimarães et al. [2011] báo cáo một hoạt động chống oxy hóa thấp của tinh dầu sả chanh Brazil bằng phương pháp đo lường khả năng nhặt sạch gốc DPPH ổn định; tuy nhiên, khi phân tích bằng phương pháp sử dụng β-carotene / linoleic acid, tinh dầu cho thấy các hoạt động chống oxy hóa đáng kể. Sử dụng phương pháp Folin-Ciocalteau, Mirghani et al. [2012] đã chứng minh hàm lượng phenolics cao nhất trong tinh dầu được chiết xuất từ ​​thân cây sả, tức là 2100,8 mg GAE / L. Hoạt tính chống oxy hóa cao của tinh dầu sả chanh cũng được thử nghiệm với xét nghiệm thu dọn gốc DPPH. Các kết quả thu được bởi Hartartie et al. [2019] chỉ ra rằng hoạt tính chống oxy hóa của tinh dầu sả phụ thuộc vào phương pháp chưng cất và bộ phận được sử dụng.

Hoạt tính chống oxy hóa được đo bằng gốc tự do DPPH cho thấy rằng tinh dầu sả chanh thu được bằng phương pháp chưng cất hơi nước thân sả chanh có hoạt tính chống oxy hóa cao nhất (72,724%), trong khi tinh dầu chưng cất nước từ toàn bộ cây sả có hoạt tính chống oxy hóa thấp hơn tới 70.113%. Hoạt tính chống oxy hóa của tinh dầu làm từ lá sử dụng phương pháp chưng cất hơi nước cao hơn (60,80%) so với thu được bằng cách chưng cất nước (57.331%).

Các đặc tính chống oxy hóa của tinh dầu sả được quy cho sự hiện diện của các hợp chất terpenoid và phenolic, có thể chứng minh tính oxi hóa khử của chúng sử dụng các cơ chế khác nhau, như: thu thập hydro, hoạt động thu dọn gốc tự do, hoạt động chelating kim loại chuyển tiếp, và / hoặc khả năng dập tắt oxy nhóm đơn [Viuda-Martos et al., 2010]. Trong y văn, tính chất chống oxy hóa của tinh dầu sả được quy cho hỗn hợp các hợp chất hóa học khác nhau của tinh dầu, bởi vì ngay cả các thành phần nhỏ có thể ảnh hưởng và điều hòa hoạt động của toàn bộ tinh dầu.

Các đặc tính chống oxy hóa của tinh dầu C. citratus có thể đáng được xem xét về mặt kết hợp tinh dầu vào các công thức của dược phẩm dinh dưỡng hoặc/và thực phẩm chức năng. Chất chống oxy hóa có thể làm sạch các gốc tự do và làm chậm oxy hóa lipid trong các sản phẩm thực phẩm[7].

Tác dụng hạ đường huyết, mỡ máu

Chiết xuất nước lá tươi Cymbopogon citratus có tác dụng hạ đường huyết và cholesterol toàn phần, triglyceride, lipoprotein mật độ thấp và lipoprotein mật độ rất thấp, phụ thuộc vào liều trong khi tăng nồng độ lipoprotein mật độ cao trong huyết tương, nhưng không ảnh hưởng đến nồng độ triglyceride huyết tương[6].

Tác dụng trên thần kinh

Tinh dầu sả chanh được đánh giá có tác dụng an thần, giải lo âu và chống co giật. Tinh dầu có hiệu quả trong việc tăng thời gian giấc ngủ[6]..

Tác dụng khác

Tinh dầu sả chanh là một trong những loại tinh dầu quan trọng nhất, đang được sử dụng rộng rãi để phân lập citral. Citral là nguyên liệu ban đầu để điều chế ionon. α-ionone được sử dụng làm hương liệu, mỹ phẩm và nước hoa. β-ionone được sử dụng để tổng hợp vitamin A. Citral b, thành phần phổ biến nhất của dầu, là một chất ức chế β –glucuronidase rất tốt[3].

Tinh dầu sả làm giảm co thắt cơ trơn ruột chuột lang cô lập gây bởi histamin, đồng thời làm giảm tỷ lệ vỡ của dưỡng bào màng treo ruột chuột lang khi tiêm tĩnh mạch nọc rắn hổ mang hoặc nhỏ dung dịch nọc rắn hổ mang lên màng treo ruột chuột.

Chất myrcen trong sả chanh có tác dụng làm giảm đau ngoại biên (peripheral analgesic effect) (Lorenzetti, Berenice; CA.116,1992,504 d)[1].

Tinh dầu sả chanh có tác dụng tăng cường hoạt động tiêu hóa của dạ dày, kích thích sự thèm ăn, thúc đẩy tiêu hóa, và điều hòa hệ thống thần kinh và giãn mạch máu[3].

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đỗ Huy Bích, Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật.
  2. Võ Văn Chi, Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nhà xuất bản y học.
  3. Handbook of herbs and spices, Volume 3
  4. Mohamed Nadjib Boukhatem et al., Lemon grass (Cymbopogon citratus) essential oil as a potent anti-inflammatory and antifungal drugs.
  5. Mohd Irfan Naik et al., Antibacterial activity of lemongrass (Cymbopogon citratus) oil against some selected pathogenic bacterias.
  6. Gagan Shah et al., Scientific basis for the therapeutic use of Cymbopogon citratus, Stapf (Lemon grass).
  7. Ewa Majewska, Lemongrass (Cymbopogon citratus) Essential Oil: Extraction, Composition, Bioactivity and Uses for Food Preservation – a Review.
  8. Grace O.Onawunmi, Evaluation of antimicrobial activity of citral.
  9. Damian H. Gilling, Mechanisms of Antiviral Action of Plant Antimicrobials against Murine Norovirus.
  10. Selvarani Vimalanathan, Anti-influenza virus activity of essential oils and vapors.
  11. Luz Angela Gómez, Comparative Study on In Vitro Activities of Citral, Limonene and Essential Oils from Lippia citriodora and L. alba on Yellow Fever Virus.
  12. Gholamhosein Pourghanbari, Antiviral activity of the oseltamivir and Melissa officinalis L. essential oil against avian influenza A virus (H9N2).
  • Bình luận Facebook
  • Bình luận mặc định

Ý kiến của bạn

Ý kiến của bạn